Dầu nhớt xe gắn máy và tiêu chuẩn Nhật Bản JASO

DẦU NHỚT XE GẮN MÁY VÀ TIÊU CHUẨN NHẬT BẢN JASO


Có nhiều sự hiểu lầm đối với hầu hết các đặc tính của dầu nhớt xe gắn máy trên thị trường hiện nay.


Người chủ xe hơi khi nhìn vào sự thay nhớt có thể luôn luôn tìm kiếm dấu tiêu chuẩn để bảo đảm chất lượng dầu sẽ đạt mức hiệu suất hoạt động nào đó. Đặc tính đó của dầu cho xe hơi và xe tải được lập ra bởi Hiệp hội Dầu nhớt Hoa Kỳ (API).


Người chủ xe gắn máy cũng có thắc mắc tương tự. Tuy nhiên, trong khi cấp độ API là biểu thị tốt nhất về chất lượng dầu cho xe hơi, xe tải hoặc máy diesel, thì nó lại không bảo đảm là dầu đó có thích hợp cho xe gắn máy không. Động cơ xe gắn máy có đặc tính cơ khí khác hơn xe hơi và xe tải diesel. Những đặc tính này đòi hỏi loại dầu khác để cung cấp hiệu suất hoạt động và tuổi thọ tối đa.


Trong khi API vẫn duy trì phân loại cấp độ TC (2 thì), thì phân loại này đã lạc hậu và không thích hợp. Năm 1994, Tổ chức Tiêu chuẩn Xe hơi Nhật bản (JASO) phát triển một tiêu chuẩn mới. Phương thức đã được triển khai để thử nghiệm bốn đặc tính hoạt động của dầu cho động cơ 2 thì, gồm có:


  1. Tính bôi trơn
  2. Tính tẩy rửa
  3. Môment xoắn ban đầu
  4. Sự hình thành khói xả
  5. Hệ thống xả

Trong tiêu chuẩn nhớt động cơ 2 thì này, JASO đã lập ra 3 cấp độ:


  1. FA: là cấp độ phân loại thấp nhất, với các đặc tính hoạt động tối thiểu.

  2. FB: cao hơn FA, trong đó có thêm yêu cầu về tính bôi trơn, tính tẩy rửa, khói xả và hệ thống xả.

  3. FC: là cấp độ phân loại cao nhất. Yêu cầu về tính bôi trơn bằng với FB. Tuy nhiên FC có yêu cầu về khí thải, hệ thống xả và tính tẩy rửa vượt xa yêu cầu của FB.

Năm 1998, JASO đưa ra tiêu chuẩn động cơ xe máy 4 thì. Động cơ xe gắn máy 4 thì có thể xem như tương tự  với động cơ xe hơi hơn là động cơ xe máy 2 thì, nhưng động cơ xe máy 4 thì lại có yêu cầu hoạt động rất khác. Về lịch sử, xe máy 4 thì có những vấn đề về sự hao mòn rỗ mặt hộp số trong bộ truyền động và sự trượt ly hợp. Trong nhiều trường hợp điều này có thể được coi là do dầu. Hầu hết dầu động cơ xe hơi được phát triển để giảm tối thiểu sự ma sát và tăng tối đa sự tiết kiệm nhiên liệu. Vì dầu cho nhiều xe máy 4 thì được lưu thông không chỉ qua động cơ (như trong xe hơi) mà còn qua bộ truyền động và ly hợp, nên dầu lại cần thêm các đặc tính khác nữa. Trước hết, cần có mức độ ma sát nào đó để ngăn ly hợp không bị trượt. Kế đến, dầu cần ngăn chận sự hao mòn và rỗ mặt hộp số của bộ truyền động. Những đặc tính này và các đặc tính thiết yếu khác đều được JASO đưa vào thành tiêu chuẩn cho động cơ 4 thì.


Những yêu cầu khác nhau trong động cơ xe máy cũng giải thích sự mâu thuẫn rõ rệt vì sao cấp độ JASO cao thích hợp cho xe máy trong khi có thể có phân loại API rất thấp và/hoặc đã lạc hậu (khi áp dụng cho xe hơi).


Phân loại JASO cho xe máy 4 thì được phân chia thành các cấp độ MA và MB.  MB là dầu ma sát thấp trong khi Ma là dầu có độ ma sát cao hơn. MA hoặc MA 2 là cấp độ cao nhất và tiến bộ nhất.


  1. MA - đây là yêu cầu cao hơn, đòi hỏi mức độ ma sát cao hơn. Như chúng ta đã biết, SỰ MA SÁT CAO là đặc tính của xe gắn máy; vì lý do tiết kiệm nhiên liệu, MA SÁT THẤP lại là đặc tính cần có của xe hơi hoặc xe tải. Năm 2005, JASO mở rộng phân loại này thành MA1 (cho xe hơi) và MA2 với độ ma sát cao hơn dành cho xe máy 4 thì.

  2. MB - đây là phân loại thấp hơn với độ ma sát thấp.

Các thí nghiệm về 5 đặc tính khác của phân loại JASO cho xe 4 thì gồm có:


  1. Tro sulfat - Góp phần vào việc đánh lửa trước nếu dầu hiện diện trong buồng đốt của động cơ. Chất này có thể góp phần tạo cặn trên vòng bạc séc-măng và làm hở sú-páp.

  2. Mất hơi - Làm giảm lượng bôi trơn đến bộ truyền động, động cơ và ly hợp.

  3. Khuynh hướng tạo bọt - làm giảm sự bôi trơn của dầu.

  4. Tính ổn định sựï phân hủy - Tính ổn định phân hủy kém làm dầu mau mất độ nhớt, gây ra sự cọ xát giữa hai bề mặt kim loại của các bộ phận động cơ.

  5. Nhiệt độ cao thì độ nhớt bị phân hủy cao: Động cơ xe máy khi hoạt động nóng hơn động cơ xe hơi 50% và trung bình có số vòng quay mỗi phút nhiều hơn 34%. Sự bảo vệ chống lại nhiệt và phân hủy độ nhớt là thành phần chính của dầu nhớt tổng hợp xe máy TOP-1.

Có những vấn đề đặc biệt đối với dầu nhớt xe gắn máy: Hầu hết xe gắn máy đều có ly hợp ướt, nghĩa là dầu đi qua ly hợp. Nếu dầu có quá nhiều chất molybden, e rằng ly hợp sẽ bị trượt. Nói chung, trong dầu xe máy, người ta nên tránh các loại dầu “bảo tồn năng lượng”. Thứ dầu này có chứa chất phụ gia cải thiện độï ma sát nên có thể gây ra trượt ly hợp. Tất cả các loại dầu 0W20, 5W30, 10W30 đều giữ năng lượng và không nên dùng cho xe máy, trong khi những thứ dầu này lại rất tốt cho xe hơi.


Hầu hết xe gắn máy cho dầu động cơ đi qua bộ truyền động và hộp số truyền động đều rất nghiêm khắc về chất cải thiện chỉ số nhớt. Tiêu biểu là dầu tổng hợp ít chứa chất cải thiện chỉ số nhớt, vì vậy dầu tổng hợp xe gắn máy rất được khuyến cáo sử dụng.


Dầu tổng hợp có chỉ số nhớt cao hơn dầu khoáng. Dầu tổng hợp chống loãng ở nhiệt độ cao tốt hơn. Xe gắn máy của bạn cần dầu nhớt tổng hợp TOP-1 vì:


  1. Xe gắn máy chạy ở nhiệt độ cao hơn xe hơi trung bình 50%.
  2. Xe gắn máy có vòng quay trung bình mỗi phút cao hơn xe hơi 34%.
  3. Xe gắn máy tạo ra công suất trung bình cao hơn xe hơi 42%.
  4. Xe gắn máy trung bình được bảo vệ chỉ với 800 ml dầu trong khi xe hơi lại là 4 - 5 lít.

Nếu bạn bảo vệ xe gắn máy của bạn chỉ với một lượng dầu nhớt không đến 1 lít, tại sao không chọn loại dầu tốt nhất là dầu nhớt tổng hợp TOP-1!